Bìa của tập thơ Nhật ký trong tù

Nhật Ký Trong Tù – Hoàn cảnh ra đời và phân tích nội dung

Nhật Ký Trong Tù là tập thơ được viết bằng chữ hán nổi tiếng của vị lãnh tụ vĩ đại Hồ Chí Minh. Bài thơ được sáng tác trong khoảng thời gian Bác bị chính quyền Tưởng Giới Thạch của Trung Quốc bắt giam. Bài thơ đã cho thấy rõ được con đường cứu nước đầy gian khổ và lòng yêu nước nồng nàn của Bác. Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu kỹ hơn về hoàn cảnh ra đời, nội dung và nghệ thuật được sử dụng trong bài thơ.

Tác phẩm Nhật ký trong tù ra đời trong hoàn cảnh nào?

Tháng 1/1941, sau 30 năm hoạt động ở bên nước ngoài, Bác đã về nước để thực hiện chỉ đạo cách mạng trong nước. Đến tháng 5, Hội nghị lần thứ 8 của Trung ương Ðảng họp ở hang Pác Bó dưới sự chủ trì của Người đã quyết định thành lập “Việt Nam độc lập đồng minh” tức là “mặt trận Việt minh” để có thể đoàn kết đông đảo nhân dân đồng lòng đánh Pháp đuổi Nhật, giải phóng cho dân tộc ta. Lúc này chúng ta cần phải tranh thủ thêm sự giúp đỡ của các đồng minh, mà đồng minh gần ta nhất chính là Trung Quốc. Người hiểu biết Trung Quốc hơn ai hết là Bác nên được Trung ương cử đi Trùng Khánh để kêu gọi sự viện trợ của chính phủ Tưởng Giới Thạch, nhưng bên trong là ngầm đặt quan hệ với Ðảng Cộng Sản Trung Quốc. Lúc này Người đổi tên là Hồ Chí Minh.

Bìa của tập thơ Nhật ký trong tù
Bìa của tập thơ Nhật ký trong tù

Ði suốt trong thời gian 10 ngày 5 đêm, Bác mới đến được thị trấn Túc Vinh thuộc tỉnh Quảng Tây. Tại đây, Bác đã bị khám xét và bị bắt, đồng chí người Trung Quốc dẫn đường không có giấy tờ tùy thân cũng bị bắt theo. Bọn bộ hạ của Tưởng cho rằng Bác sang phá rối tổ chức Việt Nam Cách Mạng Ðồng Minh Hội của Trương Công Bội và Nguyễn Hải Thần lập ra. Cũng bởi vậy mà những bức điện của Bác gửi cho bọn cầm quyền chính phủ Tưởng đều không được trả lời.

Chúng giải Bác đi khắp mọi nơi, tay thì bị trói cổ mang xiềng xích, dầm mưa dãi nắng, trèo đèo lội suối. Hơn một năm ở trong nhà tù của Tưởng Giới Thạch, Bác đã làm 134 bài thơ chữ Hán, in trong cuốn “Nhật ký trong tù”. Trong đó có bài “Mới ra tù tập leo núi” được làm sau khi Bác đã ra khỏi tù nhưng nhà xuất bản văn học vẫn in trong tập Nhật ký trong tù được xuất bản năm 1960.

Tháng 5/1990, kỷ niệm ngày sinh thứ 100 của Bác, người ta đã tìm ra được thêm 20 bài thơ chữ hán được viết trong thời kỳ bác bị giam giữ trong nhà tù Tưởng Giới Thạch. Như vậy, Nhật ký trong tù của Bác sẽ có tổng tất cả 134 bài thơ được viết bằng chữ Hán.

Hồ Chí Minh đã bị bắt ở Quảng Tây vào ngày 29/08/1942 và được trả tự do vào ngày 10/09/1943. Phải một năm sau vào tháng 09/1944, nhà đương cục của Trung Quốc mới để Bác trở về nước. Bác đã viết bài thơ “Ngục trung nhật ký” ở trong hoàn cảnh ấy. 

Nhật ký trong tù là cuốn nhật ký ghi chú lại những sự việc xảy ra trong những ngày mà Bác bị giam giữ. Tập thơ được viết bằng chữ Hán không phải là một bài thơ trường thiên liền mạch mà gồm nhiều bài, mỗi bài nói về một vấn đề, thể điệu có sự thay đổi nhưng phần lớn lại là thể thơ thất ngôn tứ tuyệt.

Thơ văn trong tù xưa nay có rất nhiều bài nổi tiếng như “Thi tù tùng thoại” của Huỳnh Thúc Kháng hay “Xiềng xích” của Tố Hữu. Trong văn học thế giới có 2 tác phẩm “Viết dưới giá treo cổ” của Phu Xích và “Nhật ký trong tù” của Hồ Chí Minh là một trong những tác phẩm hiếm có.

Phân tích nội dung của tác phẩm Nhật ký trong tù

Là một bức tranh thu nhỏ của xã hội Trung Quốc vào thời Tưởng Giới Thạch

Xã hội Trung Quốc vào thời kỳ 1942 – 1943 đã mục rỗng từ lâu đời. Cuốn Nhật ký trong tù đã ghi lại toàn bộ những sự việc mà Bác đã phải trải qua, đã chứng kiến. Quang cảnh mà Bác đã nhìn thấy ở những nơi đã bị giam hay bị giải đi qua: chuyện bị bắt ở Túc Vinh, sáng trưa và chiều tối. Chuyện về cái cùm, dây trói, cảnh những người tù cờ bạc bị chết. Ðây là điểm đặc trưng của bút pháp tả thực, đứng ở một góc độ nhất định để diễn tả được mọi sự việc một cách rõ ràng và chính xác nhất. Bác đã đứng ở góc độ là người tù nhân đã phải nếm trải mọi cực hình, chứng kiến mọi sự việc xảy ra ở trong nhà tù của Tưởng Giới Thạch.

Bác ngồi sáng tác thơ văn
Bác ngồi sáng tác thơ văn

Trước hết, Bác đã cho chúng ta thấy rõ sự bất công vô lý ở trong nhà tù. Vị lãnh tụ của Việt Nam vừa mới sang khỏi biên giới đã bị bắt và đưa ngay vào nhà tù của chúng.

‘Ta là đại biểu dân Việt Nam

Tìm đến Trung Hoa để hội đàm

Ai ngỡ đất bằng gây sóng gió

Phải làm khách quý tại nhà giam’

(Ðường đời khó khăn)

Có cái gì đang chờ Bác ở đó? Nhất là khi mà chúng biết Bác là người của Cộng sản. Mà thông thường chúng đối xử với những Ðảng viên cộng sản hồi bấy giờ là thà giết oan một trăm, còn hơn là để cho một tên chạy thoát.

Khi đặt chân lên trên đất của Trung Quốc, Bác bị bắt ngay ở phố Túc vinh “Túc Vinh khước sử dư mông nhục”. Với lối chơi chữ trong câu thơ Vinh – Nhục đã cho thấy nhà tù của Quốc dân đảng đã chà đạp lên danh dự, lên nhân quyền của con người. Mà quan trọng nhất đối với con người chính là vấn đề về danh dự.

Chế độ xã hội của Trung Quốc thời Tưởng đã mục nát từ bao đời thì nhà tù đâu còn là nơi để giáo dục cải tạo nữa. Một điều vô lý hết sức ở đây đó là: Ở bên ngoài đánh bạc thì bị bắt, nhưng vào tù thì lại tha hồ đánh bạc. Bởi vì đánh bạc ở bên ngoài sẽ làm rối ren trật tự, sinh ra trộm cắp, phạm đến quyền bóc lột và quyền tư hữu của bọn quan liêu. Cho nên khi vào đây nếu có tiền thì mua cơm mà ăn, không có tiền thì chỉ chết đói:“Tù cứng ngày ngày no rượu thịt – Tù nghèo nước mắt, bọt mồm tuôn”(Tù cờ bạc).

Vào tù thời điểm này không cần phải hối cải, làm việc thiện, thậm chí là tha hồ gây tội, tha hồ đánh bạc nữa:“Ðánh bạc ở ngoài quan bắt tội – Trong tù đánh bạc được công khai – Bị tù con bạc ăn năn mãi – Sao trước không vô quách chốn này” (Cờ bạc).

Bọn chúng không hề quan tâm gì đến công lý, pháp luật. Nhật ký trong tù có hai bài thơ mà Bác đã nhắc tới việc trốn đi lính, vợ phải đi tù thay cho chồng. Mà đi lính để làm gì? Không phải là để kháng quân Nhật mặc dù Nhật đã đánh chiếm ở khắp nơi, mà để tấn công đội quân Hồng quân Liên xô, Trung Quốc và để khai tăng con số lên cho nhiều để kiếm viện trợ của Mỹ.

Trong tập thơ có hai bài thơ mà Bác đã viết về cảnh người vợ phải đi tù thay cho chồng. Ðã là công lý thì ai làm người nấy chịu. Thế nhưng nhà tù của Tưởng Giới Thạch đã sổ toẹt ra tất cả, chà đạp lên tất cả. Hơn thế nữa chúng còn bắt tất cả trẻ em vào trong tù.

“Sở dĩ ngã niên tài bán tuế

Cháu bé trong nhà lao Tân Dương”

Nhà tù của bọn chính quyền Tưởng đã trở thành nơi để đầu cơ hối lộ. Vào tù thì phải nộp tiền giam, phải mua chỗ ngủ ở quán trọ nếu không thì phải nằm cạnh chỗ chuồng xí, thổi cơm, đun nước đều phải trả tiền.

“Thổi một nồi cơm trả sáu hào

Nước sôi mỗi chậu,một đồng trao

Một đồng, của đáng sáu hào chí

Giá cả trong tù định rõ sao!”

(Tiền công )

Những nét miêu tả ở trên đâu phải là những nét cá biệt, trong 18 nhà tù Bác đã miêu tả ít nhiều như thế. Nếu ngoài xã hội mà liêm chính, không có những cảnh hối lộ công khai, phổ biến thì làm thế nào mà những chuyện quái gở ấy lại thành lệ, thành chế độ ở trong nhà lao.

Bác đọc sách
Bác đọc sách

Nhật ký trong tù đã tố cáo xã hội gián tiếp qua những cảnh tượng ở nhà lao. Nó đã vươn ra ngoài diễn tả cho cái xã hội thái bình của từng Ban trưởng suốt ngày đánh bạc, cao hơn một bậc là cảnh trưởng chạy quanh để làm tiền, trên một bậc nữa là huyện trưởng chấm đèn hút thuốc phiện. Bác đã sử dụng những câu văn châm biếm để nói rõ lên cái vô lý, cái lố lăng và cái tàn nhẫn đang ngự trị hồi: “Ban trưởng nhà lao chuyên đánh bạc – Giải người cảnh trưởng kiếm ăn quanh – Chong đèn huyện trưởng làm công việc – Trời đất lai tân vẫn thái bình” (Ở Lai tân).

Tóm lại, toàn bộ tất cả những cảnh tượng đã xảy ra ở bên trong cuốn Nhật ký trong tù chính là hình ảnh thu nhỏ của xã hội Trung Quốc vào thời bấy giờ. Biết bao những thối nát, bất công và tàn bạo của chế độ Tưởng đang đè nặng lên trên cuộc sống của những người dân lành. Nói tới sự bất công ngang trái ở nhà tù Tưởng Giới Thạch những bài thơ trong tập Nhật ký trong tù như là một cái tát mạnh vào mặt kẻ thù. 

Thể hiện tâm hồn cao đẹp của chủ tịch Hồ Chí Minh

Nói tới nét đẹp tâm hồn có nghĩa là nói tới tình cảm, nhưng trước hết là nói tới tình yêu thương con người của Bác. Trong văn học nhất là nền văn học cổ điển sẽ có những trường hợp mà tư tưởng tác phẩm tự đặt ra những vấn đề mà các tác giả không hề nghĩ tới như ở truyện Kiều của Nguyễn Du. Nhưng với “Nhật ký trong tù” thì trái lại Bác chưa nói ra được hết những điều mà mình muốn nói. Nhưng không phải vì thế mà phẩm chất đạo đức của Bác không hề ngời sáng trong thơ. Ðồng chí Viên Ưng – một nhà thơ của Trung Quốc, sau khi đọc tác phẩm “Nhật ký trong tù” đã viết nhận xét: “Chúng ta được gặp một tâm hồn vĩ đại của một bậc đại trí, đại nhân và đại dũng… tôi cảm thấy trái tim vĩ đại đó đã tỏa ra ánh sáng chói ngời khi đang trong một hoàn cảnh tối tăm.”

Ánh sáng ấy trước hết chính là ánh sáng của tình thương người. Ðồng chí Phạm Văn Ðồng đã nói: “Tình nhân đạo, tình thương đồng bào đó là điều sâu sắc nhất và tốt đẹp nhất ở trong con người của Hồ Chủ tịch.

Bác ngồi đọc sách báo
Bác ngồi đọc sách báo

Bác ái ngại cho cảnh những người vợ đến thăm chồng ở trong ngục, người phải đứng trong cửa sắt, người đứng bên ngoài cửa sắt mà cách biệt như một đại dương. Có lần trong tù bỗng vang lên tiếng sáo, nghe tiếng sáo mà Bác đoán được nỗi lòng của người thổi sáo. 

Bỗng nghe trong ngục sáo vi vu

(Người bạn tù thổi sáo)

Cùng chịu vất vả cực khổ thì Bác lại càng thương cho người bạn tù chỉ có cái chăn bằng giấy, đêm thu cũng như Bác trằn trọc ngủ không yên. Thương người tù cờ bạc mất hết tiền không có cái gì để ăn trước cái cảnh ngày ngày no rượu thịt của những kẻ khác. Tuy họ chỉ là những người tù cờ bạc nhưng Bác lại thương xót như thương xót cho người thân của mình.

“Thân anh da bọc lấy xương

Khổ đau đói rét hết phương sống rồi…”

(Một người tù cờ bạc vừa chết)

Thương cho những người lao động phải dầm mưa, dãi nắng mà tiền công chẳng được bao nhiêu. Tâm trí của Bác đã âu yếm ghi lại một cái quán nhỏ ở bên đường, chỉ có cháo hoa và muối trắng nhưng các khách qua đường vẫn lấy làm chỗ để tạm dừng chân.

Thương tâm nhất chính là những em bé. Một em bé mới có nửa tuổi, có tội tình chi mà cũng phải theo mẹ vào trong tù. Bài thơ “Cháu bé trong nhà lao Tân dương” chính là lời của một em bé, đọc lên nghe như một tiếng khóc: oa…! oa…!ooa…!

Bác thương cho mọi số phận, tha thiết với biểu hiện của sự sống và tâm linh dù đó chỉ là những cái rung khẽ của hương hoa đã bị người đời và sự tạo hóa lãng quên. Dù đó chỉ là chuyện về cái răng, chiếc gậy bị lính ngục đánh cắp. Người xưa đã nói: “Nhân chi sơ tính bản thiện” (Mạnh Tử đã nói); “Tính tương cận, tập tương viễn” (Khổng Tử đã nói). Bác cũng có những câu thơ:

“Ngủ thì ai cũng như lương thiện

Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ hiền

Hiền dữ phải đâu là tính sẵn

Phần nhiều do giáo dục mà nên”

(Nửa đêm)

Dạ bán – nửa đêm khi mà những người tù cờ bạc, rượu chè, cướp giật, những nạn nhân ở nơi tù ngục của người đã ngủ thì chỉ có mình Bác thức. Bác đã thức trắng đêm rồi một mình ngắm nghía những kẻ đã gây ra tội lỗi kia và bỗng từ khuôn mặt của những kẻ xấu đó gợi dậy trong Người một sự xót xa đầy cay đắng, làm dâng trào hơn sự hy vọng, một quyết tâm cứu vớt chúng sinh ngày càng mạnh mẽ. Nhà thơ Xuân Diệu đã từng nói: “Người bạn tù, người tù là đề tài nhân loại đối với Bác”. Ðặng Thanh Lê từng khảo sát “Hình tượng bằng hữu” bên trong “Ngục trung nhật ký” đã nhận xét chính xác như sau: “Bác là một nhân cách văn hóa lớn mang tâm hồn của nhân loại”. Ðề tài nào Bác cũng viết, hình tượng nào Bác có thể xây dựng, nhân vật nào Bác cũng hướng tới nên rất nhân văn. Chế Lan Viên cũng đã từng phân tích kỹ về hai mối quan hệ đi về giữa dân tộc và nhân loại bên trong Bác: “Ở Bác cái nhân loại trước tiên là nhân loại – nhân bản, nhân loại – văn hóa. Lòng thương người của Bác chính là tinh thần nhân đạo cao độ”. Chúng ta lại càng thấm thía hơn, ở đây là mạch nhân đạo của nhân loại chìm sâu bên trong Hồ Chủ tịch, có sức gợi và sức rung kỳ diệu. Mạch nhân đạo đó cũng giúp cho chúng ta hiểu được vì sao độc lập tự do, hạnh phúc cứ như là một điệp khúc vang mãi bên trong tâm tưởng của Người.

Nói tới tâm hồn cao đẹp của Hồ Chủ tịch là nói tới tấm lòng yêu người và tình yêu thiên nhiên. Tình yêu thiên nhiên trong con người Bác cũng chính là lòng yêu đời. Cái mạch nhân đạo bên trong thơ của Bác giúp cho chúng ta hiểu rõ cảm hứng của thiên nhiên ở Người.

Chúng ta phải thừa nhận một sự thực rất phổ biến ngày nay, đó chính là sự khủng hoảng sinh thái, khủng hoảng trong mối quan hệ con người với thiên nhiên. Những khủng hoảng này có tác hại không nhỏ đến sự suy thoái về đạo đức, cách ứng xử của con người với thiên nhiên. Con người đã khai thác thiên nhiên để sống, nhưng lại đang tàn phá nó trầm trọng bởi việc khai thác vô kế hoạch. Họ vẫn chưa cảm nhận rõ sự phản ứng dữ dội của thiên nhiên đối với bản thân do chỉ biết vơ vét mà không lo bù đắp trở lại.

Trong sự khủng hoảng về sinh thái như vậy thì việc trở về với thiên nhiên trong cách ăn ở, giao hòa cảm xúc với cây cối, trăng sao, một áng mây chiều, một cánh chim, … của Bác lại là bài học nhân đạo lớn lao biết nhường nào. Với Bác, thiên nhiên đã làm rất tốt vai trò sinh thái để cảm hóa con người “Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”. Với thiên nhiên, Bác đã làm tốt vai trò của người cảm hóa: “Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ”. C.Mác cũng đã từng nói: “Con người do hoàn cảnh tạo ra, bởi vậy phải làm cho hoàn cảnh mang tính người”. Bác Hồ chính là kiểu mẫu đầy nhân đạo trong tính hai chiều đó:

“Mặc dù bị trói chân tay

Chim ca rộn, núi hương bay ngát rừng

Vui say ai cấm ta đừng

Ðường xa âu cũng bớt phần quạnh hiu”

(Trên đường đi)

Thiên nhiên như muốn chia sẻ nỗi vất vả cùng với Bác, muốn sưởi ấm thêm cho tâm hồn Bác. Bởi Bác rất hiểu và rất cảm mến thiên nhiên, có được thứ tình cảm ấy chính là lòng yêu đời của Bác.

Giữa bao nhiêu tăm tối dày đặc vẫn ngời lên ánh sáng chói chang của một tâm hồn thương người và yêu đời vô bờ bến. Giữa muôn vàn khổ cực Bác vẫn vui vẻ, vẫn cảm thấy cái vui tràn đầy bên trong cuộc sống. Những hình ảnh như thế không thiếu gì ở chung quanh ta, nhưng thường nó vẫn trôi qua nếu không có một tấm lòng yêu đời sâu sắc thì không thể nào ghi lại được. 

Bác đánh chữ bằng máy
Bác đánh chữ bằng máy

Không phải chỉ cuộc sống ngoài nhà tù Bác mới nói vui mà ngay cả trong nhà tù, kẻ thù cũng không thể cướp được cái vui hồn nhiên trong cuộc sống của Bác được. Quý làm sao nét vui trên mặt của những người đang phải sống cảnh tù tội:

“Nắng sớm mặt trời soi cả ngục

Sương mù khói đặc sẽ tan hơi

Tràn đầy sinh khí trong trời đất

Tất cả tù nhân mặt nở tươi”

(Nắng sớm)

Sáng sớm vui vẻ, trưa cũng vui. Đây là cái vui của một con người đã làm chủ được mọi hoàn cảnh và biến hiện thực đen tối trở thành ánh sáng.

“Cơm xong bóng đã xuống trầm trầm

Vang tiếng đàn ca rộn tiếng ngân

Nhà ngục Tĩnh tây mờ mịt tối

Bổng thành nhạc quán viện hàn lâm”

(Xế chiều)

Sống chính là một niềm vui. Đây là sự thật đơn giản và là điều hiển nhiên. Nhưng chúng ta còn nhớ được biết bao nhiêu tiếng kêu khóc thảm thiết đã được viết trong những câu văn thơ ngày trước. Trong lòng phải có sẵn một tâm hồn mạnh mẽ, một niềm tin tưởng vô bờ bến mới có thể nhìn ra được cái sự thật đơn giản và hiển nhiên ấy.

Trong hoàn cảnh xã hội mục nát, lại sống trong hoàn cảnh bị tù đày và giữa biết bao công việc lớn còn đang chờ đợi thì thực không dễ gì mà vui vẻ được. Cũng có lúc Bác thấy rất buồn:

“Nghìn dặm bâng khuâng hồn nước cũ

Muôn tơ vương vấn mộng sầu nay

Ở tù năm trọn thân vô tội

Hòa lệ thành thơ tả nỗi này”

(Ðêm thu)

Tóm lại, một trong những biểu hiện của tình thương người và lòng yêu đời của Bác chính là lòng yêu nước. Nhật ký trong tù thể hiện canh cánh trong lòng nỗi nhớ nước thương dân của Bác. Chân bước đi trên đất Bắc mà lòng vẫn hướng về phía Nam, nhớ đồng bào đang trong hoàn cảnh lầm than. Bác nhớ tiếng khóc của bao nhiêu em bé Việt Nam khi nghe được tiếng khóc của một em bé Trung Quốc, nhớ các đồng chí đã đưa tiễn mình đến bên sông, nhớ lá cờ tung bay phất phới trước gió, nhớ lúc tỉnh và nhớ cả trong lúc mơ:“Một canh …hai canh… lại ba canh – Trằn trọc bâng khuâng giấc chẳng thành – Canh bốn canh năm vừa chợp mắt – Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh” (Không ngủ được).

Thể hiện một tinh thần bất khuất, kiên cường

Tình thương người, lòng yêu đời và yêu nước ở trong thơ của Bác là sự kế tục truyền thống thơ ca xưa, nhưng mặt khác lại không giống như thơ xưa. Nó là tâm tình của một người Cộng sản gắn liền với sự chiến đấu và vững tin ở chiến thắng. Bác đã từng nói rất rõ:

Nay ở trong thơ nên có thép

Nhà thơ cũng phải biết xung phong

(Cảm tưởng đọc Thiên gia thi)

Chính ý chí sắt đá và tinh thần rèn luyện cao độ, Bác đã luôn giữ vững qua muôn vàn khổ cực và cũng đã từng nói lên được thông qua những hình ảnh thơ:

“Gạo đem vào giã bao đau đớn

Gạo giã xong rồi trắng tựa bông”

(Nghe tiếng giã gạo)

Cuộc đời hoạt động của Bác chính là một bài thơ lớn, tràn đầy sức sáng tạo. “Nhật ký trong tù” không thể sánh được với toàn bộ bài thơ lớn ấy. Bác chính là người làm thơ trong cuộc đời của nhiều nhà thơ. Nhưng trong sự nghiệp chung của Bác thì văn thơ chỉ là chuyện phụ.

Bác đi bộ qua suối
Bác đi bộ qua suối

Trong cuộc sống nghèo nàn ấy, Bác đã tìm ra đủ đề tài để viết cho hơn một trăm bài thơ. Đối với Bác thì chuyện gì cũng có thể thành thơ. Chuyện núi non, trăng hoa thành thơ mà đến chuyện dưa cà mắm muối cũng thành thơ được. Bác làm thơ chỉ vì một cái răng, một cái gậy hay kể cả những chuyện rất ít chất nên thơ cũng có thể thành thơ. Cho nên khi Bác nói trong thơ phải có thép thì chúng ta cũng cần phải tìm hiểu thế nào là thép bên trong thơ. Có lẽ phải hiểu một cách rất linh hoạt thì mới đúng. “Không phải chỉ nói chuyện thép và giọng thép mới là có tinh thần thép”. Trong thơ văn cũng như trong cuộc đời, điều quan trọng nhất vẫn là cái thực chất của con người. Trong tác phẩm Nhật ký trong tù ít có những lời hô to nói lớn: “Giọng của người không phải sấm trên cao – Thấm từng tiếng ấm vào lòng mong ước”(Sáng tháng năm).

Bác cứ nhỏ nhẹ, cứ hồn nhiên mà có thể toát lên được một tinh thần thép, tinh thần của một vị anh hùng bất khuất, luôn luôn giữ vững bước tiến lên, ý chí chiến đấu.

Sống ở trong tù lúc nào Bác cũng phải thể hiện được phong thái ung dung, bình tĩnh và phảng phất chất thơ văn của nhà nho thời xưa. Nhưng cái ung dung ngày trước có khi lại là cái ung dung của người đang quay lưng lại với cuộc đời: “trả áo mũ về sống cuộc sống ẩn dật hay chấp nhận mọi nỗi thăng trầm của thế sự”. Bác hoàn toàn là người không phải như vậy. Ðồng chí Phạm Văn Ðồng đã nói: “Hồ Chủ tịch là hình ảnh của sức mạnh, bình tĩnh mà không hề khiếp sợ, không hoảng hốt.” Đó là sức mạnh của những người đang sống một nhịp với trào lưu của thế giới, với quy luật tiến hóa của lịch sử. Chính Bác cũng đã nói:

“Sự vật vẫn xoay đà định sẵn

Hết mưa là nắng hửng lên thôi”

(Trời hửng)

Nhật ký trong tù giúp chúng ta tìm thấy được sức chịu đựng vô cùng mãnh liệt của Bác. Nhà tù đã đày đọa lên thân thể của Bác, chúng đã giải Bác đi khắp nhà tù này đến nhà tù khác, tối ngủ thì chân bị cùm, đi thuyền thì bị treo giò.

“Bốn tháng cơm không no

Bốn tháng đêm không ngủ

Bốn tháng không giặt giũ

Bốn tháng không thay quần áo”

Bị giam lâu năm, chân bị mềm như trùn, thế mà lúc ra tù, Bác đã tập leo núi ngay để chờ lúc có thể băng qua núi rừng về nước. Ðó chính là cái gương cương nghị ở Bác. Nhờ có tinh thần thép mà mọi khó khăn, gian nguy Bác đều có thể vượt qua. Nhờ có tinh thần thép mà mọi sự thiếu thốn về vật chất Bác đã đẩy lùi. Bác là tinh hoa của lịch sử, là khí phách của dân tộc và là tâm hồn của thời đại.

Nhật ký trong tù là một trong những tác phẩm có giá trị lịch sử quý nhất Việt Nam. Tập thơ đã giúp chúng ta đi sâu vào cảm xúc, suy nghĩ và những nỗi băn khoăn của chủ tịch Hồ Chí Minh. Hy vọng bài viết sẽ giúp các bạn có thêm những kiến thức bổ ích về tập thơ “ Nhật Ký Trong Tù. Nếu các bạn có gì thắc mắc hãy bình luận ở bên dưới bài viết để được giải đáp kỹ hơn.

[adsense_block_detail]
Website đang trong quá trình chạy thử nghiệm